Facebook

Đau thắt ngực là bệnh lý mà rất nhiều người thường xuyên gặp. Tuy nhiên, ít ai biết được rằng đây là dấu hiệu của các bệnh nguy hiểm về tim mạch. Trong bài viết này chúng ta sẽ biết rõ hơn về các cách để chẩn đoán người bệnh bị đau thắt ngực do  các bệnh tim mạch, đặc biệt là bệnh mạch vành và nguy cơ nhồi máu cơ tim

 

 

 

ĐAU THẮT NGỰC LÀ GÌ?


Quả tim chúng ta giống như một cái bơm, có nhiệm vụ bơm máu đi khắp cơ thể và được nuôi dưỡng bằng một hệ mạch máu gọi là hệ mạch vành. Khi mạch vành bị tắc sẽ làm ngưng trệ dòng máu đến nuôi dưỡng cơ tim, biểu hiện ra ngoài là những cơn đau thắt ngực nếu kéo dài sẽ dẫn đến tim không được cung cấp máu làm hoại tử gây tử vong (nhồi máu cơ tim).


Trên thực tế, biểu hiện của các bệnh nhân bị đau thắt ngực rất khác nhau. Có rất nhiều bệnh nhân nhập viện không phải vì đau thắt ngực mà chỉ vì cảm giác khó chịu ở trong ngực. Có trường hợp lại xuất hiện những cơn đau thắt ngực điển hình, cảm giác như bị đè ép, thắt chặt ở ngực. Cơn đau có thể xuất hiện ở sau xương ức hay vùng trước tim, có thể lan ra cả hai cánh tay, cổ, hàm, vai….thời gian của cơn đau có khi 5 – 10 phút, có khi đau nhẹ âm ỉ. Cơn đau thường xuất hiện khi nghỉ, gắng sức có thể kèm theo các triệu chứng khác như buồn nôn, chóng mặt, nôn, vã mồ hội, mệt mỏi…. Đặc biệt là ở người già, những người nằm trong nhóm các yếu tố nguy cơ như béo phì, tăng huyết áp, hút thuốc lá, stress…đối với người đái tháo đường có thể bị đau thắt ngực nhưng không có triệu chứng đau ngực. 


Vì vậy, phát hiện sớm những cơn đau thắt ngực là phương pháp an toàn nhất để phòng ngừa các bệnh về tim mạch, nhất là nhồi máu cơ tim.


LÀM GÌ ĐỂ PHÁT HIỆN RA ĐAU THẮT NGỰC?


Khi bạn có bất cứ triệu chứng nghi ngờ đến đau thắt ngực hãy đến ngay các chuyên khoa y tế để được bác sĩ thăm khám. Bạn có thể tham khảo một số chẩn đoán dưới đây đối với đau thắt ngực. 


Điện tâm đồ (Electrocardiogram hay ECG)


Điện tâm đồ được xem như là phương pháp quan trọng nhất trong việc phát hiện ra các dấu hiệu của các bệnh về tim mạch. Điện tâm đồ không những có giá trị trong việc xác định bệnh mà còn cung cấp các thông tin giúp cho việc tiên lượng bệnh. Điện tâm đồ cần được tiến hành cho mọi bệnh nhân có đau ngực, đặc biệt là trong cơn đau. Sự thay đổi của đoạn ST thoáng qua xuất hiện khi bệnh nhân có đau ngực và mất đi khi bệnh nhân hết triệu chứng có thể gợi ý thiếu máu cơ tim và báo hiệu bệnh nhân sắp bị bệnh động mạch vành. Có nhiều trường hợp bệnh nhân bị đau thắt ngực mà không có thay đổi trên điện tâm đồ. Do vậy, khi điện tâm đồ không thấy có thay đổi gì cũng không loại trừ được khả năng mắc bệnh.

 

 

 

Điện tâm đồ gắng sức

Trạng thái nghỉ ngơi bình thường với khi đang vận động như đạp xe sẽ khác nhau. Vì vậy, điện tâm đồ khi gắng sức là cách phát hiện ra những cơn đau ngực tốt nhất, giúp kiểm soát bệnh mạch vành. Khi điện tâm đồ gắng sức ECG sẽ được đo liên tục trong khi bệnh nhân đang đi trên máy tập chạy bộ hoặc đạp xe đạp tại chỗ. Sự xuất hiện của cơn đau ngực trong khi gắng sức có thể tương ứng với những thay đổi trên ECG thể hiện sự thiếu oxy của cơ tim. Khi bệnh nhân nghỉ ngơi thì cơn đau thắt ngực cũng như những thay đổi trên ECG thể hiện sự thiếu oxy của cơ tim cùng biến mất. Tính chính xác của điện tâm đồ gắng sức trong chẩn đoán bệnh lý mạch vành vào khoảng 60% đến 70%.


Trong trường hợp điện tâm đồ gắng sức không cho thấy dấu hiệu của bệnh mạch vành, có thể cho thallium theo đường tĩnh mạch trong lúc thực hiện nghiệm pháp gắng sức. Thallium này cho phép ghi hình hạt nhân dòng máu đến những vùng khác nhau của cơ tim bằng một camera gắn ngoài. Sự giảm lưu lượng máu đến một khu vực nào đó của tim trong khi luyện tập và bình thường khi nghỉ ngơi cho biết có một đoạn mạch vành hẹp đáng kể ở vùng tương ứng của tim.


Siêu âm tim gắng sức

Siêu âm tim gắng sức là phương pháp chính xác hơn điện tâm đồ gắng sức trong việc phát hiện ra những cơn đau thắt ngực. Khi động mạch vành bị hẹp lại thì vùng cơ tim được động mạch cung cấp máu sẽ không co bóp tốt như phần còn lại của cơ tim trong khi gắng sức. Sự bất thường này sẽ được phát hiện bằng siêu âm tim. Siêu âm tim gắng sức và thallium gắng sức đều có độ chính xác vào khoảng 80% đến 85% trong việc phát hiện bệnh mạch vành ở độ nặng tương đối.


Ở một số trường hợp có những vấn đề như thần kinh hoặc cơ xương khớp thì bệnh nhân không thể thực hiện nghiệm pháp gắng sức, các bác sĩ có thể tiêm thuốc vào tĩnh mạch để tạo ra một tình trạng stress cho tim tương tự như khi bệnh nhân đang gắng sức. Khi đó hình ảnh của tim có thể được ghi nhận lại bằng camera hạt nhân hoặc bằng siêu âm tim.

 

 

Thông tim

Thông tim là loại khảo sát phát hiện ra hẹp động mạch vành một cách chính xác nhất cùng với chụp mạch máu cho phép chụp lại hình ảnh X quang của các động mạch vành. Các ống nhựa rỗng nhỏ (catheter) được luồn vào các lỗ mở của các động mạch vành dưới sự hướng dẫn của X quang. Hình ảnh của X-quang sẽ ghi nhận lại những tổn thương của tim mạch. Thủ thuật chụp mạch vành cho phép bác sĩ có được hình ảnh về vị trí và độ nặng của bệnh động mạch vành, giúp bác sĩ lựa chọn được những phương pháp điều trị thích hợp.


Chụp mạch vành qua CT


Là thủ thuật tiêm thuốc nhuộm có chứa iod vào tĩnh mạch rồi sau đó chụp CT để ghi nhận lại hình ảnh của các động mạch vành. Tuy nhiên biện pháp này có thể gây ra nhiều nguy cơ như :

  • • Bệnh nhân có thể bị dị ứng với iod.
  • • Bệnh nhân có chức năng thận bất thường
  • • Tiếp xúc với phóng xạ với mức độ tương đương hoặc nhiều hơn so với chụp mạch vành quy ước.

Dù nhiều nguy cơ, nhưng theo các bác sĩ đánh giá chụp mạch vành qua CT vẫn là công cụ quan trọng nhất để chẩn đoán bệnh mạch vành.


Chụp X-Quang động mạch vành

Đây là phương pháp rất có giá trị trong chẩn đoán bệnh động mạch vành. Kỹ thuật này giúp đánh giá tiên lượng và nguy cơ của thiếu máu cơ tim, giúp chỉ định điều trị bằng ngoại khoa hay tiến hành nong động mạch vành.


Kết quả chụp X quang động mạch vành còn cho thấy đặc tính của chỗ hẹp: hẹp một chỗ hay nhiều chỗ; hẹp một, hai, hay ba thân động mạch vành, độ dài của chỗ hẹp, chỗ hẹp có gấp khúc hay không, có vôi hoá hay không và có thể phát hiện những trường hợp co thắt mạch vành phối hợp.

 

 


Một số xét nghiệm khác

Ngoài ra còn một số xét nghiệm khác mang lại hiệu quả cao như xét nghiệm : Enzym (SGOT, LDH, CPK, MB), chụp xạ hình cơ tim, chụp buồng tim có đồng vị phóng xạ; siêu âm tim hai chiều để đánh giá mức độ tổn thương cơ tim do thiếu máu từ đó có phương pháp chữa trị phù hợp.

 

Trên đây là những biện pháp để chẩn đoán cơn đau thắt ngực do bệnh lý tim mạch và có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim. Trong thực tế, để nâng cao tính chính xác của kết quả thì người bệnh đôi khi phải trải qua nhiều biện pháp chẩn đoán trên. Đây cũng là một phần khiến tăng thêm chi phí và sự phiền phức cho các bệnh nhân tim mạch. Chính vì vậy việc chủ động phòng ngừa đối với các đối tượng có nguy cơ cao càng trở nên quan trọng hơn.